Hiện nay ở trên thị trường đã có rất nhiều những loại đá ốp lát tự nhiên được dùng đến ở trong các mục đích sử dụng khác nhau. Tuy nhiên có thể được người dùng sử dụng nhiều những không phải là ai cũng có thể biết được những tác dụng cũng như những đặc điểm của từng loại đá ốp lát đó. Những thông tin chúng tôi chia sẻ sau đây sẽ giúp cho các bạn đọc tìm hiểu chi tiết hơn về những loại đá ốp lát này.
Đá cẩm thạch hay còn được gọi là đá marble được hình thành nhờ những sức ép trong lòng đất và làm cho khối vật chất có những màu sắc đặc thù, có vân đá rất đặc trưng. Các sản phẩm đá cẩm thạch thường sẽ được mài nhẵn bóng, làm thành những tấm đá slab khổ lớn, được dùng để cắt mặt bàn bếp, ốp mặt tiền, ốp cột.
Ở Việt Nam, thì đá marble cũng được cắt thành những khổ nhỏ như gạch ốp tường, kích thước 10x20, 7,5x22, 15x30 cm.
Đá phiến (slate) chính là dạng đá hạt mịn, thành phần của nó chứa nhiều mica, chlorite và hạt thạch anh. Đá tầy xanh, đá chẻ bao Đà Nẵng, đá đen Lai Châu là các dạng đá slate rất phổ biến ở Việt Nam. Đá slate nhập khẩu thì thường dùng là đá vân gỗ, đá hồng ban mai... nhập từ Trung Quốc. Các dạng đá này sẽ thường cắt khổ cỡ 10x20 cm, 15x30cm. Đá Đà Nẵng, đá Lai Châu màu xanh đen, thường dùng ốp để chân tường, đá slate vân gỗ do có nhiều sắc màu (xanh lá cây nhạt, hồng, tía nhạt, vàng..) nên chúng ta thường thấy được ưa dùng.
Đá slate cũng được dùng như ngói những tấm mái lợp, tương tự như ngói ardoise bên Pháp, nhưng ở Việt Nam thì ứng dụng này chưa phổ biến lắm.
Đá travertine là một dạng hỗn tạp giữa 2 loại đá là đá vôi và đá cẩm thạch. Loại đá này sẽ thường được mài bóng thành các tấm slab như đá cẩm thạch. Nhược điểm của những loại đá này chính là đá có những lỗ nên người ta thường phải trám vào những lỗ này. Một số loại hóa chất, hay chất tẩy rửa có thể làm hỏng đá nên đá cần được chăm sóc kỹ.
Đá ốp lát granite, thường được gọi là đá hoa cương, cứng chắc, hạt đặc, màu sắc nhìn lấm tấm như hạt tiêu, hay hạt mè. Đá granite có mặt thô, hoặc mặt khò người ta thường dùng để lát sân, lát lối đi. Đá granite cũng được mài nhẵn bóng thường làm khổ slab lớn để ốp mặt tiền nhà, đại sảnh. Đá granite nhân tạo sẽ được làm từ hỗn hợp đá và các chất kết dính được ép lại và mài nhẵn bóng như những loại đá granite tự nhiên. Đá nhân tạo thường nhẹ hơn.
Đá cuội, đá ba zan (basalt): Đá ba zan cứng, màu sắc đơn giản gam màu tối (chỉ từ xám đến đen) nên thường dùng trong thiết kế cảnh quan đề lát nền, lát lối đi, ốp chân tường. Đá cuội thường dùng ốp tường tiểu cảnh, đá ốp tường ngoại thất quán cafe sân vườn.
Đá tổ ong: đá tổ ong vàng (laterite) chứa nhiều chất sét, lỗ to, dễ gãy vỡ. Đá tổ ong xám (lava stone) lỗ nhỏ hơn ít dễ gãy hơn, nên có thể cắt khổ tùy ý. Đá tổ ong thường dùng để ốp chân tường, hoặc ốp bồn hoa trong thiết kế ngoại thất
.
.
Đá vôi ít đặc hơn đá cẩm thạch, thường có màu trắng, xám, vàng, đá chứ nhiều CaCO3.